Chat with us, powered by LiveChat

Đối tác liên kết

Đại học sư Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội

Đại học sư Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội

Các khóa đào tạo

Ngày 21/12/1999, Khoa Sư phạm (tiền thân của Trường Đại học Giáo dục) chính thức được thành lập theo Quyết định số 1481/TCCB của Giám đốc ĐHQGHN. Việc thành lập Khoa Sư phạm đánh dấu sự ra đời một mô hình đào tạo giáo viên mới trong hệ thống giáo dục Việt Nam – mô hình đào tạo mở hướng tới sự liên thông, liên kết trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao.

Để ghi nhận và phát triển mô hình đào tạo tiên tiến, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 441/QĐ-TTg, ngày 03 tháng 4 năm 2009 thành lập Trường Đại học Giáo dục trên cơ sở Khoa Sư phạm. Trường Đại học Giáo dục đã trở thành đại học thành viên thứ 6 trong ngôi nhà chung ĐHQGHN.

Hiện nay, Trường Đại học Giáo dục có 4 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ, 11 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 16 ngành đào tạo bậc cử nhân.

Đến năm 2020, Trường Đại học Giáo dục đã đào tạo được hơn 5.000 cử nhân, 18 khoá đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với hơn 2000 học viên cao học; 14 khoá đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn với hơn 3000 học viên; 5 Khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục với hơn 100 học viên; 10 khóa thạc sĩ Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên với hơn 100 học viên; 03 khóa thạc sĩ Quản trị trường học; 17 khoá đào tạo tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với hơn 100 NCS đã bảo vệ thành công luận án tiến; 5 Khóa đào tạo tiến sĩ Đo lường và đánh giá trong giáo dục với 36 NCS; 3 Khóa đào tạo tiến sĩ Tâm lý học Lâm sàng trẻ em và vị thành niên với 15 NCS; Bồi dưỡng hàng chục ngàn giáo viên, giảng viên trên cả nước về nghiệp vụ sư phạm và các khoá bồi dưỡng chuẩn chức danh nghề nghiệp và các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn khác. Song song với việc đào tạo trong nước, Trường Đại học Giáo dục đã triển khai có hiệu quả các hoạt động liên kết đào tạo quốc tế và chuyển giao công nghệ trong đào tạo. Tính đến nay, Trường đã triển khai 8 chương trình đào tạo thạc sĩ liên kết quốc tế với 663 học viên, trong đó 650 học viên đã hoàn thành chương trình đào tạo và được cấp bằng thạc sĩ.

Trường Đại học Giáo dục tích cực xây dựng, tư vấn chính sách ở tầm vĩ mô tới các Bộ, Ngành và các cơ quan Trung ương. Đồng thời, tham gia tư vấn phát triển kinh tế – xã hội cho nhiều tỉnh, thành phố theo chỉ đạo của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trường Đại học Giáo dục là thành viên Hiệp hội giáo viên Châu Á  Thái Bình Dương; thành viên mạng lưới các trường đại học giáo dục Á – Phi (AAD); thành viên Mạng lưới Quốc tế về Đào tạo Giáo viên (UNITWIN), thành viên mạng lưới Trao đổi Sinh viên giữa Nhật Bản và ASEAN (TWINCLE).

Thành công của Trường Đại học Giáo dục trong các lĩnh vực hoạt động đã được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận và đánh giá cao. Trường đã nhận được nhiều danh hiệu khen thưởng các cấp, được tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhì của Chủ tịch nước, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Cờ thi đua của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bằng khen của Chủ tịch UBND 11 tỉnh, thành phố; Cờ thi đua của ĐHQGHN và Bằng khen của Giám đốc ĐHQGHN..

Đại học sư phạm Thái Nguyên

Đại học sư phạm Thái Nguyên

Các khóa đào tạo

Tên gọi: Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

 Địa chỉ:  Đường Lương Ngọc Quyến, Phường Quang Trung – Thành phố Thái Nguyên

 Email: phonghanhchinh-tochuc@dhsptn.edu.vn     Điện thoại: 02083 851013

 Địa chỉ Website: https://www.dhsptn.edu.vn           Fax: 02083 857867

Hiệu trưởng: PGS-TS Mai Xuân Trường

 

Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên tiền thân là Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc được thành lập ngày 18/07/1966 theo Quyết định số 127/CP của Chính phủ. Đến năm 1994, Chính phủ thành lập Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc trở thành cơ sở giáo dục đại học thành viên thuộc Đại học Thái Nguyên, có tên mới là Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên (ĐHSP – ĐHTN).

Trải qua 50 năm xây dựng và phát triển, Trường ĐHSP – ĐHTN luôn kiên định với sứ mạng: là cơ sở đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao; là trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, phục vụ sự nghiệp giáo dục – đào tạo, phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, đặc biệt là khu vực Trung dumiền núi phía Bắc.

Đội ngũ giảng viên của Trường ngày một lớn mạnh, đáp ứng tốt những yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Tính đến 12/2016, Trường có 562 cán bộ, giảng viên. Trong 386 giảng viên, 34 người có học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư, 154 giảng viên có trình độ Tiến sĩ (chiếm tỷ lệ gần 40%) và 75 giảng viên đang học nghiên cứu sinh trong và ngoài nước.

Những ngày đầu thành lập, Trường chỉ là cơ sở đào tạo giáo viên trung học phổ thông cho con em đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc với 07 chuyên ngành đào tạo, đến nay, Trường ĐHSP-ĐHTN đã khẳng định được vị trí trong hệ thống các trường đại học sư phạm cả nước. Với 13 chuyên ngành tiến sĩ, 23 chuyên ngành thạc sĩ, 27 chương trình đại học và các chương trình cấp chứng chỉ bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục, Trường đã đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho cả nước. Tính đến tháng 12/2016, Trường có gần 14.000 người học ở tất cả các hệ đào tạo, trong đó gần 1000 học viên cao học, 123 nghiên cứu sinh. Ngoài ra, Trường đang đào tạo gần 300 lưu học sinh quốc tế ở tất cả các bậc học. Từ khi thành lập đến nay, Trường đã đào tạo gần 100.000 giáo viên, cán bộ quản lý; gần 3.500 thạc sỹ, trên 70 tiến sĩ cho đất nước và hơn 500 sinh viên quốc tế.

Về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, Trường đã có nhiều đóng góp to lớn, góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách trong phát triển kinh tế xã hội, giáo dục đào tạo. Cán bộ Nhà trường đã tham gia hằng chục đề tài NCKH trọng điểm cấp Nhà nước; thực hiện hằng trăm đề tài NCKH cấp Bộ, cấp Đại học. Cán bộ, giảng viên Nhà trường đã công bố hằng trăm bài báo trên tạp chí quốc tế có uy tín trong hệ thống ISI. Cùng với hoạt động NCKH của giảng viên, hoạt động NCKH của sinh viên luôn được Trường quan tâm đầu tư, hằng năm, sinh viên của Trường đều giành thứ hạng cao trong giải thưởng sinh viên NCKH toàn quốc.

Về hợp tác quốc tế, Trường có quan hệ hợp tác với nhiều trường đại học, nhiều tổ chức quốc tế trên thế giới như Nhật Bản, Hoa Kì, Đức, Úc, Hà Lan, New Zealand, Hàn Quốc, Bỉ, Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Lào, Campuchia. Trường đã kí nhiều biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác; đã tổ chức hằng trăm lượt cán bộ đi thực tập khoa học, trao đổi kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ ở nước ngoài. Đồng thời, Trường đã thu hút hằng chục giáo viên nước ngoài đến tình nguyện giảng dạy cho sinh viên của Trường.

Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giáo dục đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong 50 năm xây dựng và phát triển, Trường đã vinh dự được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý:

– 02 Huân chương Lao động hạng Ba (1967, 1982);

– 02 Huân chương Lao động hạng Nhì (1989, 1991);

– 01 Huân chương Lao động hạng Nhất (1996);

– 01 Huân chương Độc lập hạng Ba (2001);

– 01 Huân chương Độc lập hạng Nhì (2005);

– 01 Huân chương Độc lập hạng Nhất (2011);

– 01 Huân chương Hữu nghị của Nước CHDCND Lào (2016);

– Đặc biệt, năm 2015, Trường vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý – Danh hiệu Anh hùng Lao động.

Trong 10 năm gần đây, tập thể Trường đã được các cấp tặng thưởng 17 Cờ thi đua: 04 Cờ của Chính phủ, 05 Cờ của Bộ GD&ĐT, 06 Cờ của tỉnh Thái Nguyên và 02 Cờ của Bộ Công an, 43 Bằng khen Tỉnh, Bộ, Ngành. Liên tục đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu trong Đảng bộ Đại học Thái Nguyên; Liên tục đạt danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc, đơn vị tiến tiến xuất sắc trong khối thi đua Đại học Thái Nguyên và Bộ Giáo dục & Đào tạo.

Đại học Hải Phòng

Đại học Hải Phòng

Các khóa đào tạo

Trường Đại học Hải Phòng ngày nay là sự hợp thành từ nhiều trường trong hệ thống các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng ở Hải Phòng mà đơn vị tiền thân đầu tiên là Trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng được thành lập theo Nghị định số 359-NĐ, ngày 22 tháng 7 năm 1959 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục về việc thành lập các trường sư phạm trung cấp ở các tỉnh, liên tỉnh. Trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 cho các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và Kiến An (nay là thành phố Hải Phòng), Hồng Quảng và Hải Ninh (nay là tỉnh Quảng Ninh).

Sau khi thành lập, nhà trường đã tập trung làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phổ thông, góp phần tích cực cho quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục ở các địa phương trong những năm đầu của công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và kháng chiến chống đế quốc Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Hệ thống các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở Hải Phòng đã hình thành từ các trường đào tạo và bồi dưỡng sư phạm theo các cấp học từ bậc sơ cấp, trung cấp, 10+1, 10+2, 10+3 tới cao đẳng. Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập trường Đại học Sư phạm Hải Phòng trên cơ sở sáp nhập Trường Cao đẳng sư phạm Hải Phòng, Trường Đại học tại chức Hải Phòng, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và Bồi dưỡng giáo viên Hải Phòng và Trung tâm Ngoại ngữ Hải Phòng. Ngày 09 tháng 4 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 60/2004/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng thành Trường Đại học Hải Phòng.

Trường Đại học Hải Phòng gồm có 4 cơ sở, cơ sở trung tâm đặt tại quận Kiến An, 3 cơ sở khác đặt tại quận Ngô Quyền.

1. Số 171 đường Phan Đăng Lưu, Quận Kiến An, Hải Phòng: Cơ sở trung tâm. Đây là khu vực gồm văn phòng nhà trường: Ban giám hiệu, các phòng, ban, trạm, văn phòng các khoa khoa học cơ bản, các khoa sư phạm, ngoại ngữ, giảng đường, thư viện trung tâm và ký túc xá sinh viên. Diện tích quy hoạch 28 ha.

2. Số 246A đường Ðà Nẵng, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng: Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ Trường Đại học Hải Phòng.

3. Số 10 đường Trần Phú, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng: Trung tâm đào tạo ngoại ngữ Trường Đại học Hải Phòng.

4. Số 2 đường Nguyễn Bình, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng: (cơ sở này đã trả lại mặt bằng cho Thành phố để phục vụ cho Đài truyền hình Hải Phòng)

Trường Đại học Hải Phòng có tổng diện tích phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và hội họp là hơn 28,76 ha. Trường có hơn 263 giảng đường, phòng học, hội trường lớn và hệ thống phòng hội thảo; gần 35 phòng thí nghiệm và phòng thực hành. Các hệ thống cơ sở vật chất phục vụ bộ môn giáo dục thể chất và phong trào thể thao của sinh viên đầy đủ và hiện đại với 1 sân bóng, 1 nhà thi đấu đa năng,… Trường có một khu ký túc xá với 150 phòng, đủ khả năng đáp ứng chỗ ở cho khoảng trên 1500 sinh viên, và 1 trung tâm y tế.

Trường Cán bộ quản lý Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trường Cán bộ quản lý Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Các khóa đào tạo

Hơn 40 năm xây dựng và phát triển (1977 – 2019), cán bộ, giảng viên, học viên Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch luôn tự hào với truyền thống vẻ vang của mình. Nhà trường đang từng ngày phấn đấu vươn tới những mục tiêu cao hơn, xây dựng Trường trở thành một trọng điểm đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học chất lượng cao của cả nước và trong khu vực, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Căn cứ Quyết định số 84/QĐ-BVHTTDL ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch;

Căn cứ Quyết định số 66/QĐ-BVHTTDL ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy định phân cấp quản lý công tác tổ chức cán bộ;

Phòng Đào tạo, Bồi dưỡng có chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Quyết định số 24/QĐ-CBQL ngày 30 tháng 01 năm 2020 của Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch như sau:

Điều 1. Chức năng

Phòng Đào tạo, Bồi dưỡng có chức năng tham mưu và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo bồi dưỡng theo kế hoạch được phê duyệt.

Điều 2. Nhiệm vụ, quyền hạn  

  1. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi d­ưỡng và tổ chức thực hiện kế hoạch sau khi đ­ược phê duyệt.
  2. Quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi d­ưỡng trong và ngoài nước cho cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch về:
  3. a) Kiến thức, kỹ năng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương trước khi bổ nhiệm;
  4. b) Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch công chức, viên chức; Kiến thức, kỹ năng quản lý chuyên ngành cho lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, cấp vụ và tương đương;
  5. c) Kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp;
  6. d) Đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm.
  7. Hợp tác với các tổ chức, cá nhân, cơ sở đào tạo trong và ngoài nước về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế, kỹ năng quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành cho cán bộ, công chức, viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch. Phối hợp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ đối ngoại (Đề án Tùy viên văn hóa.)
  8. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và địa ph­ương tổ chức các lớp đào tạo, bồi d­ưỡng theo kế hoạch được phê duyệt.
  9. Điều tra, khảo sát, xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và đề xuất phương thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của Ngành.
  10. Tham gia nghiên cứu khoa học, xây dựng chương trình, giáo trình và biên soạn tài liệu bồi dưỡng theo kế hoạch được phê duyệt.
  11. Phối hợp với các Phòng chức năng quản lý, cấp bằng, chứng chỉ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng được giao hoặc được ủy quyền cho cán bộ, công chức, viên chức theo quy định.
  12. Thực hiện công tác cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng theo quy định của pháp luật và chương trình, kế hoạch của Bộ, Trường.
  13. Quản lý cán bộ, viên chức, người lao động và tài sản được giao.
  14. Đảm bảo chế độ báo cáo theo quy định của Nhà trường. Thực hiện các dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của Hiệu trưởng.
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Các khóa đào tạo

Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên là một trường đại học kỹ thuật đào tạo bậc đại học và sau đại học các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển nông thôn cho cả nước đặc biệt là các tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam. Từ ngày thành lập đến nay, nhà trường đã không ngừng phát triển, trưởng thành và khẳng định được vị trí trọng điểm số một, thực hiện nhiệm vụ cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao về lĩnh vực nông, lâm nghiệp cho khu vực. Ngày đầu thành lập, Nhà trường mới chỉ đào tạo đại học cho 2 ngành, đến nay đã có 20 chuyên ngành đại học, 7 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 7 chuyên ngành đào tạo tiễn sĩ. Tính đến năm 2014, Trường đã đào tạo cho đất nước hơn 27000 kỹ sư, hàng nghìn thạc sĩ, hơn 30 tiến sĩ và nhiều cán bộ trình độ cao đẳng, trung cấp và kỹ thuật viên ngành Nông lâm nghiệp, Tài nguyên và môi trường, phát triển nông thôn, trong đó 50% là con em các dân tộc thiểu số và người sống ở vùng sâu vùng xa khu vực miền núi.

Theo số liệu điều tra, có tới 70% cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đang làm việc ở các tỉnh miền núi phía Bắc được đào tạo từ Trường ĐHNLTN, nhiều người giữ chức vụ quan trọng Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện… Hiện tại có 395 cựu sinh viên do trường đào tạo đang giữ chức vụ chủ chốt cấp huyện trở lên, 43 đồng chí lãnh đạo cấp tỉnh, lãnh đạo cấp Bộ, Ngành và Trung ương, có 8 đồng chí là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, 2 đồng chí là Bộ trưởng.

Cơ sở vật chất của Nhà trường đảm bảo cho quy mô đào tạo. Từ năm 2008 Nhà trường bắt đầu triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ (từ khóa 39). Chuyển đổi chương trình, thay đổi phương thức đào tạo, thay đổi hình thức thực hành, thực tập và thi cử, một mặt đáp ứng được nhu cầu  đào tạo của xã hội, mặt khác cũng tạo ra áp lực đối với đổi mới công tác giảng dạy và điều hành quản lý đào tạo.